Thứ Ba, 9 tháng 7, 2024

 

Tư tưởng Hồ Chí Minh về đánh giá cán bộ và sự vận dụng của Đảng ta hiện nay

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh rất quan tâm đến khâu đánh giá cán bộ (ĐGCB), bởi có đánh giá đúng mới có cơ sở để thực hiện tốt các khâu trong công tác cán bộ, nhất là bố trí, sử dụng cán bộ.

ĐGCB là hoạt động của cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu nhận xét, đánh giá theo hệ tiêu chí đã xác định như phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, chuyên môn nghiệp vụ, năng lực tổ chức thực tiễn và mối quan hệ ứng xử với quần chúng nhân dân. Theo Hồ Chí Minh để đánh giá đúng cán bộ cần phải “Hiểu biết cán bộ”[1]. Có nắm được những ưu khuyết điểm, kết quả thực hiện nhiệm vụ, năng lực sở trường, xu hướng phát triển, tâm tư nguyện vọng và giữ mối liên hệ với nhân dân của cán bộ thì mới có cơ sở để đánh giá chính xác cán bộ.

Để đánh giá đúng cán bộ, theo Hồ Chí Minh, chủ thể đánh giá phải nắm vững phương pháp biện chứng, lịch sử cụ thể. Bởi theo Người, “Trong thế giới cái gì cũng biến hoá. Tư tưởng của người cũng biến hoá. Vì vậy, xem xét cán bộ, quyết không nên chấp nhất, vì nó cũng phải biến hoá”[2]. Người đã đưa ra sự so sánh hai mẫu hình cán bộ, có người khi trước theo cách mạng mà nay lại phản cách mạng. Có người khi trước không cách mạng mà nay lại tham gia cách mạng; rằng cũng có cán bộ đến nay chưa bị sai lầm, nhưng chắc gì sau này không phạm sai lầm. Nhờ nắm vững phương pháp biện chứng, nhận diện chính xác bản chất của người cán bộ nên Hồ Chí Minh dễ dàng nhận biết những cán bộ hay khoe khoang, a dua, tìm việc nhỏ mà làm, tránh việc khó, trước mặt thì theo mệnh lệnh, sau lưng thì trái mệnh lệnh… Ai cứ cắm đầu làm việc… ăn nói ngay thẳng, không che giấu khuyết điểm của mình, không ham việc dễ, tránh việc khó… những người như thế, dù công tác kém một chút cũng là cán bộ tốt”[3]. Do đó, Hồ Chí Minh yêu cầu “Xem xét cán bộ không chỉ xem ngoài mặt mà còn phải xem xét tính chất của họ. Không chỉ xem một việc, một lúc mà phải xem toàn cả lịch sử, toàn cả công việc của họ”[4].

Theo Hồ Chí Minh, ĐGCB phải toàn diện, không phiến diện chủ quan. Do bản chất con người là tổng hoà các mối quan hệ xã hội nên ĐGCB phải toàn diện - đây là căn cứ khoa học để thực hiện tốt các khâu trong công tác cán bộ. Khi ĐGCB phải căn cứ vào các nội dung/tiêu chí đó như phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, năng lực tổ chức thực tiễn, kết quả hoàn thành nhiệm vụ, quan hệ ứng xử có gần gũi với nhân dân hay không. ĐGCB không chỉ làm cơ sở cho khâu quy hoạch tạo nguồn, đào tạo, bồi dưỡng mà trong khâu đề bạt, bổ nhiệm cán bộ cũng phải xem xét, đánh giá. Hồ Chí Minh chỉ dẫn: “Trước khi cất nhắc cán bộ, phải nhận xét rõ ràng. Chẳng những xem xét công tác của họ, mà còn phải xét cách sinh hoạt của họ. Chẳng những xem xét cách viết, cách nói của họ, mà còn phải xem xét việc làm của họ có đúng với lời nói, bài viết của họ hay không… Ta nhận họ tốt, còn phải xét số nhiều đồng chí có nhận họ tốt hay không”[5]. Trong các nội dung đó, theo Bác Hồ đức là gốc, tài là quan trọng; có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó. 

Theo Hồ Chí Minh, đánh giá cán bộ phải xuyên suốt, đa chiều

Từ thực tiễn hoạt động cộng với sự trải nghiệm của mình, Hồ Chí Minh chỉ rõ chủ thể đánh giá có nhân cách, càng ít khuyết điểm, công tâm, khách quan thì ĐGCB càng chính xác. Người đúc kết: “Mình càng ít khuyết điểm thì cách xem xét cán bộ càng đúng”[6]. “Đã không tự biết mình thì khó mà biết người, vì vậy muốn biết đúng sự phải trái ở người ta, thì trước phải biết đúng sự phải trái của mình”[7]. Nhận diện những lực cản của nền sản xuất nhỏ, Hồ Chí Minh đúc kết sâu sắc khi cán bộ, đảng viên sa vào căn bệnh chủ nghĩa cá nhân, mất đoàn kết, bè cánh sẽ dẫn tới lệch chuẩn “Tự cao tự đại; Ưa người ta nịnh mình; Do lòng yêu, ghét của mình mà đối với người, đem một cái khuôn khổ nhất định, chật hẹp mà lắp vào tất cả mọi người khác nhau”[8]. Đó là căn nguyên “không bao giờ thấu rõ cái mặt thật của những cái mình trông”[9]. Đó là logic dẫn tới hệ quả “Ai hợp với mình thì dù người xấu cũng cho là tốt, việc dở cũng cho là hay, rồi che đậy cho nhau, ủng hộ lẫn nhau”[10] làm nhiễu thang giá trị đánh giá và sử dụng cán bộ của Đảng ta.

Theo Hồ Chí Minh để đánh giá chính xác cán bộ cần tham khảo ý kiến của dân chúng. Từ thực tiễn lãnh đạo, quản lý, Người yêu cầu “Việc gì cũng phải học hỏi và bàn bạc với dân chúng, giải thích cho dân chúng”[11]. Bởi dân chúng không chỉ thấy những ưu điểm, thành tích mà họ còn thấy rõ những khuyết điểm, hạn chế của cán bộ. “Cán bộ nào tốt, cán bộ nào xấu, cán bộ nào có lầm lỗi mà có thể sửa đổi, ai làm việc gì hay, việc gì quấy, dân chúng cũng do cách so sánh đó, mà họ biết rõ ràng”[12]. Bởi vậy, khi ĐGCB, bổ nhiệm cán bộ cần tham khảo ý kiến nhân dân là hết sức cần thiết để giúp cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu có thêm thông tin để đánh giá chính xác. Các cấp ủy, tổ chức đảng cần “Dựa vào ý kiến dân chúng mà sửa chữa cán bộ và tổ chức của ta”[13].

Quán triệt tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐGCB, trong các nhiệm kỳ gần đây Đảng ta luôn coi trọng khâu ĐGCB, đã bám sát hệ tiêu chuẩn, kết quả công tác làm thước đo đánh giá; kết hợp chặt chẽ các kênh, các phương pháp để đánh giá. Nhờ đó đã góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ của Đảng. Tuy nhiên, công tác ĐGCB còn bộc lộ những hạn chế, khuyết điểm, đó là một số cấp uỷ ĐGCB còn chung chung, cảm tính, chưa lượng hoá các tiêu chí để đánh giá. Vẫn còn hiện tượng “yêu nên tốt, ghét nên xấu”, có trường hợp còn nhầm lẫn giữa hiện tượng và bản chất khi ĐGCB; một số ít cấp uỷ, người đứng đầu chưa lấy kết quả thực hiện nhiệm vụ làm thước đo chủ yếu…

Để vận dụng có hiệu quả tư tưởng Hồ Chí Minh về ĐGCB cần thực hiện đồng bộ các giải pháp sau:

Thứ nhất, nâng cao nhận thức của các chủ thể về tầm quan trọng của khâu đánh giá cán bộ

Nhận thức đúng là cơ sở để hành động đúng. Cần nhận thức rằng đổi mới khâu ĐGCB là góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Bởi ĐGCB là khâu mở đầu - khâu này làm tốt sẽ tác động tích cực đến các khâu tiếp theo của công tác cán bộ. Trước yêu cầu mới, Đảng ta ngày càng nhận thức rõ vai trò của công tác ĐGCB. Các cấp uỷ, tổ chức  đảng, cơ quan tổ chức - cán bộ cần quán triệt sâu sắc tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh về ĐGCB và có những đổi mới phù hợp với thực tiễn, góp phần nâng cao chất lượng công tác cán bộ. Trong các nhiệm kỳ Đại hội, Đảng ta đều khẳng định ĐGCB là khâu yếu nhất. Bởi, ĐGCB liên quan đến lăng kính, phương pháp của chủ thể đánh giá, liên quan đến người nhà, người thân, “cánh hẩu”. Để khắc phục những hạn chế này đặt ra cho các cấp uỷ, tổ chức đảng, người đứng đầu phải nâng cao nhận thức về vai trò quan trọng của ĐGCB; tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ đủ đức đủ tầm, có khát vọng cống hiến, hoàn thành tốt chức trách, nhiệm vụ được giao.

Thứ hai, bám sát các nội dung hoạt động chủ yếu của cán bộ để đánh giá

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã lưu ý khi ĐGCB phải toàn diện, thể hiện các mặt hoạt động của  cán bộ, “nhận xét cán bộ không nên chỉ xét ngoài mặt, chỉ xét một lúc, một việc, mà phải xét kỹ  cả toàn bộ công việc của cán bộ’’[14]. Bỏ qua một nội dung nào đó khi ĐGCB đều không đúng. Quán triệt quan điểm, tư tưởng của Hồ Chí Minh về ĐGCB, Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ đã có những điểm mới: “Đổi mới công tác đánh giá cán bộ theo hướng xuyên suốt, liên tục, đa chiều, theo tiêu chí cụ thể, bằng sản phẩm, thông qua khảo sát, công khai kết quả và so sánh với chức danh tương đương, gắn đánh giá cá nhân và tập thể và kết quả thực hiện nhiệm vụ của địa phương, cơ quan, đơn vị”. Đây là quan điểm toàn diện, lịch sử cụ thể, không dập khuôn. Căn cứ vào các nội dung tư tưởng chính trị, đạo đức lối sống; trình độ nghiệp vụ chuyên môn; kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao; ý thức tổ chức kỷ luật, đoàn kết, gắn bó mật thiết với nhân dân để đánh giá. Nắm vững Quy định 124-QĐ/TƯ của Bộ Chính trị về kiểm điểm và đánh giá, xếp loại chất lượng hằng năm với tập thể, cá nhân theo 4 mức: 1. Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ; 2. Hoàn thành tốt nhiệm vụ; 3. Hoàn thành nhiệm vụ; 4. Không hoàn thành nhiệm vụ. Đồng thời, bám sát tình thần Đại hội XIII của Đảng: cán bộ, đảng viên phải thực hiện tốt “6 dám”- dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách và quyết liệt trong hành động vì lợi ích chung để nhận xét, ĐGCB. 

Thứ ba, kết hợp các phương pháp để đánh giá cán bộ

Mỗi phương pháp ĐGCB đều có những ưu điểm của nó. Kết hợp xâu chuỗi các phương pháp ĐGCB sẽ giúp cho tập thể cấp uỷ có cách nhìn toàn diện để nhận xét, đánh giá chính xác cán bộ về phẩm chất chính trị và các mặt công tác. Các phương pháp ĐGCB đó là, tập thể cấp uỷ quản lý cán bộ đánh giá; ban thường vụ đánh giá; người đứng đầu đánh giá; cơ quan tổ chức cán bộ đánh giá; cán bộ, công chức, quần chúng đánh giá; cấp uỷ nơi cư trú đánh giá. Kết hợp chặt chẽ tập thể cấp uỷ ĐGCB và cán bộ tự đánh giá về phẩm chất và các mặt công tác của mình. Xem xét tự kiểm điểm, tự đánh giá của cán bộ cũng là kênh, phương pháp để tập thể cấp uỷ, người đứng đầu hiểu sâu hơn, nắm được các mặt hoạt động của cán bộ. Bởi không ai có thể hiểu được sâu sắc, đầy đủ điểm mạnh, điểm yếu, sở trường ngoài bản thân cán bộ đó. Trong quá trình phân tích, đánh giá đòi hỏi các chủ thể đánh giá phải dân chủ, công tâm, khách quan, bám sát tiêu chuẩn, tiêu chí, thực hiện đúng nguyên tắc tập trung dân chủ - nhân tố đảm bảo góp phần nâng cao chất lượng công tác ĐGCB hiện nay.

Thứ tư, thực hiện tốt nguyên tắc tập trung dân chủ trong ĐGCB

Bản chất của nguyên tắc tập trung dân chủ là thống nhất biện chứng giữa tập trung và dân chủ - hai mặt này chế ước, làm tiền đề cho nhau, tập trung phải trên cơ sở dân chủ, dân chủ phải có sự chỉ đạo của tập trung. Xa rời nguyên tắc tập trung dân chủ thì công tác ĐGCB sẽ chệch hướng. Chủ tịch Hồ Chí Minh chỉ rõ: Kỷ luật trong dân chủ, dân chủ phải có kỷ luật[15]- kỷ luật ở đây chính là tập trung. Từng cấp uỷ, tổ chức đảng phải phát huy dân chủ để cấp uỷ viên, cán bộ, đảng viên tham gia nhận xét, ĐGCB, làm rõ những ưu điểm, khuyết điểm, hạn chế cần khắc phục sửa chữa. Cần thực hiện nguyên tắc mở rộng và phát huy dân chủ trong ĐGCB nhưng phải vận hành theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thẩm quyền trách nhiệm cuối cùng là tập thể cấp uỷ nhận xét, đánh giá theo nguyên tắc tập thể lãnh đạo, thiểu số phục tùng đa số, cấp dưới phục tùng cấp trên. Đương nhiên cần tôn trọng ý kiến nhận xét của người đứng đầu. Người đứng đầu công tâm, khách quan, theo dõi và nắm chắc kết quả thực hiện nhiệm vụ chính trị và sự phát triển của cán bộ thì sự nhận xét đó cũng có ý nghĩa quan trọng để tập thể cấp uỷ tham khảo nhận xét, đánh giá, quyết định theo đa số đối với cán bộ thuộc diện quản lý.

Thứ năm, phối hợp với cấp uỷ địa phương nơi cư trú để đánh giá cán bộ

Cán bộ không chỉ tập trung hoàn thành chức trách, nhiệm vụ trong từng cơ quan, đơn vị, địa phương trong thời gian làm việc theo quy định mà còn phải có trách nhiệm thực hiện các nhiệm vụ ở nơi cư trú (theo Quy định số 213-QĐ/TW ngày 21-1-2020 của Bộ Chính trị về trách nhiệm của đảng viên đang công tác thường xuyên giữ mối liên hệ với tổ chức đảng và nhân dân nơi cư trú. Từ khi có quy định trên, các cấp uỷ khi tiến hành công tác cán bộ, nhất là quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ đều có các văn bản gửi cho các cấp uỷ nơi cư trú để lấy ý kiến nhận xét cán bộ, đảng viên đương chức. Đây là kênh tham khảo để cấp uỷ, người đứng đầu có thêm thông tin về phẩm chất đạo đức, tính tiền phong gương mẫu trong việc thực hiện các chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước ở địa phương, sự gắn bó với nhân dân của cán bộ, đảng viên đương chức. Việc này thể hiện tính tổng hoà trong nhận xét, ĐGCB. Không thể có chuyện đảng viên đương chức ở cơ quan hoàn thành tốt nhiệm vụ nhưng ở địa phương thì đảng viên đó thiếu gương mẫu, quan liêu, xa dân mà vẫn được xếp loại đảng viên xuất sắc, cán bộ tốt. Do đó, cần nắm vững định hướng Nghị quyết số 26-NQ/TW (khoá XII) “Nghiên cứu mở rộng các hình thức lấy ý kiến đánh giá sự hài lòng của người dân đối với từng đối tượng cán bộ lãnh đạo, quản lý trong hệ thống chính trị một cách phù hợp”. 

 

Ngày 8-7-2024, tại Hà Nội, Quân ủy Trung ương tổ chức Hội nghị lần thứ 10 nhằm thảo luận, đánh giá công tác quân sự, quốc phòng 6 tháng đầu năm 2024, cũng như triển khai nhiệm vụ trọng tâm 6 tháng cuối năm 2024. Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Bí thư Quân ủy Trung ương đã gửi phát biểu chỉ đạo, gợi mở một số nội dung quan trọng để hội nghị tham khảo trong quá trình thảo luận. Tạp chí Cộng sản trân trọng giới thiệu toàn văn phát biểu của Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng với tiêu đề: “Đảng bộ quân đội và toàn quân phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng 6 tháng cuối năm 2024, xứng đáng với sự kỳ vọng, tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân”.

Ngày 8-7-2024, Quân ủy Trung ương tiến hành Hội nghị lần thứ 10 để kiểm điểm, đánh giá kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, xây dựng Đảng bộ Quân đội 6 tháng đầu năm và thảo luận, quyết nghị những chủ trương, giải pháp lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024. Tôi ghi nhận và đánh giá cao những thành tích và kết quả mà Quân ủy Trung ương đã lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân đạt được trong 6 tháng đầu năm và mong các đồng chí đạt được nhiều kết quả tốt hơn nữa trong 6 tháng cuối năm.

Trong 6 tháng đầu năm 2024, tình hình thế giới và khu vực tiếp tục có nhiều diễn biến mới, khó dự báo; cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn diễn ra gay gắt; xung đột quân sự leo thang ở một số quốc gia, khu vực chưa được kiểm soát, tiếp tục tác động nhiều mặt đến an ninh và phát triển toàn cầu. Ở trong nước, một số hạn chế, bất cập chậm được khắc phục. Tình hình tác động của biến đổi khí hậu, thiên tai mưa lũ, hạn hán, xâm nhập mặn gây ảnh hưởng nặng nề ở nhiều địa phương, gần đây xảy ra một số vụ hỏa hoạn gây thiệt hại nghiêm trọng về người và tài sản có tác động tiêu cực trong đời sống xã hội. Các thế lực thù địch triệt để lợi dụng và khoét sâu những tồn tại, hạn chế trên một số lĩnh vực của đời sống xã hội để chống phá Đảng, Nhà nước và chế độ ta.

Trong bối cảnh đó, dưới sự lãnh đạo toàn diện và kịp thời của Đảng, sự chỉ đạo, điều hành quyết liệt và linh hoạt của Chính phủ, sự đồng hành, ủng hộ của Quốc hội, sự phối hợp chặt chẽ giữa các ban, bộ, ngành trung ương và các địa phương, chúng ta đã đạt được những kết quả đáng khích lệ: Chính trị, xã hội ổn định, kinh tế tiếp tục duy trì đà phát triển (tăng trưởng GDP đạt 6,42%, vượt xa mức tăng 3,72% ở cùng kỳ năm 2023); quốc phòng, an ninh, đối ngoại được củng cố, tăng cường; công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị được đẩy mạnh; lòng tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước tiếp tục được nâng cao.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã kịp thời ban hành các nghị quyết, chỉ thị, kết luận quan trọng, nhất là quy định về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên giai đoạn mới. Trung ương đã tổ chức tốt 4 hội nghị quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước, trong đó có công tác nhân sự cấp cao của Đảng và công tác chuẩn bị Đại hội XIV của Đảng. Quốc hội đã tổ chức 4 kỳ họp quyết định những vấn đề trọng đại của quốc gia, kiện toàn lãnh đạo cấp cao của Nhà nước, bảo đảm kịp thời, tạo sự đồng thuận trong nhân dân và toàn xã hội.

Sáu tháng đầu năm 2024, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã quán triệt, chấp hành nghiêm các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, giữ vững nguyên tắc, bám sát thực tiễn, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo toàn quân phát huy kết quả của năm trước, thực hiện hiệu quả các khâu đột phá chiến lược, hoàn thành toàn diện các nhiệm vụ đề ra từ đầu năm. Trong đó, có nhiều nhiệm vụ hoàn thành tốt và xuất sắc.

1. Về kết quả lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 6 tháng đầu năm 2024, khái quát lại có 5 điểm nổi bật:

Một là, Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng đã tiếp tục nắm chắc tình hình, kịp thời tham mưu với Đảng, Nhà nước các vấn đề có tầm chiến lược về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc; mềm dẻo, linh hoạt trong xử trí các tình huống, ngăn ngừa nguy cơ xung đột; giữ vững được thế chủ động chiến lược, không để bị động, bất ngờ. Tích cực, chủ động triển khai thực hiện Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới một cách có hiệu quả ở các cấp, các ngành, các địa phương.

Hai là, tiếp tục phát huy vai trò nòng cốt trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân và “thế trận lòng dân” ngày càng vững chắc. Phối hợp chặt chẽ với các ban, bộ, ngành trung ương và địa phương hoàn thành thẩm định quy hoạch 6 vùng kinh tế - xã hội của cả nước, góp phần thúc đẩy và liên kết, điều phối các vùng; thực hiện tốt chủ trương kết hợp quốc phòng với phát triển kinh tế - xã hội, kết hợp phát triển kinh tế - xã hội với quốc phòng.

Chủ trì, phối hợp với các ban, bộ, ngành trung ương và tỉnh Điện Biên chỉ đạo tổ chức các hoạt động và diễu binh, diễu hành kỷ niệm 70 năm chiến thắng Điện Biên Phủ tương xứng với tầm vóc của sự kiện lịch sử, để lại ấn tượng tốt đẹp trong lòng nhân dân và bạn bè quốc tế; khơi dậy lòng yêu nước, sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân tộc, cổ vũ các tầng lớp nhân dân phát huy tinh thần quyết chiến, quyết thắng, vượt qua khó khăn, thách thức, tiếp tục phấn đấu, lập nên những kỳ tích mới trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chủ động phối hợp chặt chẽ với công an nhân dân và các lực lượng giữ vững an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội, bảo vệ an toàn các sự kiện trọng đại của Đảng, Nhà nước, giữ vững môi trường hòa bình, ổn định để phát triển đất nước. Luôn luôn xung kích đi đầu trong tham gia phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, tìm kiếm, cứu hộ, cứu nạn để bảo vệ tính mạng và tài sản của nhân dân (đây là cơ sở vững chắc để củng cố, duy trì mối quan hệ đoàn kết máu thịt quân - dân, tôi đề nghị Quân ủy Trung ương tiếp tục lãnh đạo toàn quân phát huy tốt hơn nữa trong thời gian tới).

Ba là, toàn quân tiếp tục duy trì nghiêm nền nếp, chế độ sẵn sàng chiến đấu, quản lý chặt chẽ biên giới, nội địa, vùng trời, vùng biển, đảo và trên không gian mạng. Chỉ đạo điều hành tốt các cuộc diễn tập hiệp đồng quân, binh chủng, diễn tập tác chiến không gian mạng trên các hướng chiến lược với quy mô lớn, phù hợp với các loại hình tác chiến mới và cách đánh, nghệ thuật quân sự Việt Nam. Trong chỉ đạo điều chỉnh tổ chức lực lượng, luôn coi trọng giữ vững sự ổn định về chính trị và tư tưởng, từ đó nâng cao sức mạnh và khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị; bảo đảm sự đoàn kết, thống nhất cao của cấp ủy, chỉ huy các cấp, quan tâm thực hiện tốt công tác chính sách đối với đội ngũ cán bộ, chiến sĩ. Hoàn thành bộ tiêu chí xây dựng quân đội nhân dân chính quy, tinh nhuệ, hiện đại trong tình hình mới.

Bốn là, công tác công nghiệp quốc phòng, tài chính, hậu cần, kỹ thuật, đối ngoại quốc phòng và các mặt công tác khác được Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện đồng bộ và đạt được nhiều kết quả rất đáng khích lệ, nhất là về công nghiệp quốc phòng tiếp tục có bước đột phá mới; hoạt động hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đạt được nhiều hiệu quả tích cực, đặc biệt là đã: Tổ chức rất thành công hoạt động giao lưu hữu nghị quốc phòng biên giới Việt Nam - Trung Quốc lần thứ 8.

Năm là, công tác xây dựng Đảng bộ quân đội vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ được đặc biệt chú trọng; giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Đã hoàn thành tổng kết thực hiện Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam; tổ chức triển khai sâu rộng các đợt sinh hoạt chính trị, tư tưởng, thường xuyên tiến hành “tự soi, tự sửa” ở các cấp, góp phần ngăn ngừa mọi biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch trong tình hình mới được tiếp tục phát huy, góp phần củng cố vững chắc trận địa tư tưởng của Đảng. Có nhiều chủ trương, giải pháp, cách làm hiệu quả để tiếp tục đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới. Với kết quả nổi bật trong 3 năm thực hiện Kết luận số 01-KL/TW của Bộ Chính trị và 2 năm thực hiện Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, có thể khẳng định phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ” tiếp tục ngời sáng; trong bất luận hoàn cảnh nào, cán bộ, chiến sĩ trong toàn quân cũng luôn luôn kiên định, vững vàng, đoàn kết, thống nhất, khắc phục khó khăn, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Luôn tích cực tham gia xây dựng cơ sở chính trị địa phương vững mạnh, giúp nhân dân xóa đói, giảm nghèo, xây dựng nông thôn mới, làm tốt công tác hậu phương quân đội, thăm, tặng quà gia đình chính sách, người có công, xây tặng nhà tình nghĩa, phụng dưỡng Mẹ Việt Nam Anh hùng...

Những kết quả đạt được trong 6 tháng đầu năm 2024 có nhiều nguyên nhân, trong đó sự lãnh đạo, chỉ đạo thường xuyên, toàn diện của Đảng, Nhà nước và sự phối hợp chặt chẽ, hiệu quả của các ban, bộ, ngành trung ương và các địa phương có ý nghĩa rất quan trọng. Nhưng chủ yếu nhất là do tập thể Quân ủy Trung ương và cấp ủy, chỉ huy các cấp trong toàn quân đã giữ vững nguyên tắc, đoàn kết, thống nhất, “trên dưới một lòng”, “dọc ngang thông suốt”; có nhiều đổi mới về phương pháp, phong cách công tác, thực hiện tinh thần “7 dám” (dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, dám đổi mới sáng tạo, dám đương đầu với khó khăn, thử thách, dám hành động vì lợi ích chung); lựa chọn đúng nhiệm vụ trọng tâm, then chốt, khâu đột phá, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo quyết liệt với những giải pháp đồng bộ, toàn diện, thiết thực, hiệu quả.

Thay mặt lãnh đạo Đảng và Nhà nước, tôi nhiệt liệt biểu dương những thành tích xuất sắc mà Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng và cán bộ, chiến sĩ toàn quân đã đạt được trong 6 tháng đầu năm 2024. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đã đạt được, 6 tháng đầu năm cũng còn tồn tại một số hạn chế, khuyết điểm như các báo cáo đã đánh giá. Đề nghị Quân ủy Trung ương cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, khắc phục sớm trong 6 tháng cuối năm; không để hạn chế, khuyết điểm kéo dài, lặp lại.

2. Về phương hướng lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024

Trong 6 tháng cuối năm 2024, dự báo tình hình thế giới và khu vực sẽ tiếp tục còn có những diễn biến mới, nhanh chóng, phức tạp và khó đoán định. Đây cũng là thời gian quan trọng để chúng ta tập trung hoàn thành cơ bản các chỉ tiêu, mục tiêu Nghị quyết Đại hội lần thứ XIII của Đảng đề ra. Đồng thời, chuẩn bị đại hội đảng bộ các cấp, nhiệm kỳ 2025 - 2030 tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIV của Đảng. Vì vậy, toàn Đảng, toàn dân, toàn quân ta cần tiếp tục nỗ lực phấn đấu, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ đề ra trong năm 2024. Để toàn quân thực hiện thắng lợi nhiệm vụ trong 6 tháng cuối năm 2024, Quân ủy Trung ương cần tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt một số nội dung, tôi xin khái quát lại với tinh thần có “5 quyết tâm và 5 chủ động” sau đây:

*Về 5 quyết tâm

Một là, quyết tâm hoàn thành tốt các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp mà Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XI đề ra. Kịp thời rà soát các nội dung công việc theo chương trình, kế hoạch đã xác định, nhất là 3 nội dung đột phá. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, đề án về quân sự, quốc phòng, bảo vệ Tổ quốc, trọng tâm là Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 khóa XIII về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Đây là những vấn đề rất lớn, rất khó, yêu cầu Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng tiếp tục tham mưu, đề xuất, phối hợp thực hiện tốt nghị quyết của Trung ương trong phạm vi cả nước và trong quân đội.

Hai là, quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo công tác sẵn sàng chiến đấu, huấn luyện chiến đấu tốt nhất. Chủ động ứng phó thắng lợi với các thách thức an ninh truyền thống và phi truyền thống. Đổi mới, nâng cao chất lượng huấn luyện, diễn tập, đáp ứng điều kiện tác chiến mới của chiến tranh sử dụng vũ khí, trang bị kỹ thuật công nghệ cao. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, tổng kết thực tiễn, bổ sung và phát triển hệ thống lý luận về quân sự, quốc phòng, nghệ thuật chiến tranh nhân dân, nghệ thuật quân sự Việt Nam trong điều kiện mới.

Ba là, quyết tâm lãnh đạo, chỉ đạo kiện toàn tổ chức, biên chế của quân đội: Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng cần tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt Nghị quyết số 05-NQ/TW, của Bộ Chính trị về tổ chức Quân đội nhân dân Việt Nam giai đoạn 2021 - 2030 và những năm tiếp theo; quyết liệt chỉ đạo hoàn thành các nhiệm vụ, giải pháp về “Năm cơ bản hoàn thành điều chỉnh tổ chức lực lượng theo hướng tinh, gọn, mạnh”, hoàn thành việc giải thể, sáp nhập, thành lập mới các cơ quan, đơn vị theo kế hoạch.

Bốn là, quyết tâm xây dựng đội ngũ cán bộ quân đội vững mạnh, đáp ứng với yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới. Trong đó, Quân ủy Trung ương cần coi trọng chỉ đạo cấp ủy, chỉ huy các cấp tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện thật nghiêm túc, hiệu quả Quy định số 144-QĐ/TW của Bộ Chính trị về chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới; phát huy 5 chuẩn mực “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết đấu tranh chống 10 biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân theo tinh thần Nghị quyết số 847-NQ/QUTW của Quân ủy Trung ương, đề cao ý thức tự tu dưỡng, rèn luyện của cán bộ, đảng viên. Thường xuyên giáo dục, khơi dậy tiềm năng, khát vọng cống hiến của đội ngũ cán bộ, đảng viên; tiếp tục xây dựng đội ngũ cán bộ theo tinh thần “7 dám”; kịp thời định hướng tư tưởng, dư luận cho cán bộ, đảng viên và quần chúng trước những vấn đề phức tạp, nhạy cảm; tạo mọi điều kiện và môi trường tốt nhất để mỗi cán bộ, đảng viên tự giác thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ được giao, nghiêm túc chấp hành pháp luật, kỷ luật, mệnh lệnh của cấp trên, sẵn sàng nhận và hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ mà Đảng, Nhà nước và nhân dân giao phó.

Năm là, quyết tâm tổ chức tốt các hoạt động hướng tới kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân: Tiến hành thật tốt, sâu rộng công tác tuyên truyền, giáo dục, để nhân dân trong nước và bạn bè quốc tế hiểu sâu sắc hơn nữa về lịch sử xây dựng, chiến đấu, chiến thắng, trưởng thành, những chiến công xuất sắc của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, thành tựu xây dựng nền quốc phòng toàn dân; qua đó, tiếp tục khẳng định sự lãnh đạo đúng đắn, sáng suốt của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh trong xác định đường lối cách mạng, đường lối quân sự, quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân bảo vệ Tổ quốc.

*Về 5 chủ động

Một là, chủ động tham mưu, đề xuất, xử lý tình huống. Kịp thời nắm chắc tình hình, tham mưu đúng, trúng các giải pháp, đối sách xử lý thắng lợi các tình huống, không để bị động, bất ngờ, không để mâu thuẫn, tranh chấp phát triển thành xung đột vũ trang, chiến tranh.

Hai là, chủ động bảo vệ chủ quyền biên giới, biển, đảo và sự thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc. Tiếp tục xây dựng và triển khai thực hiện tốt các đề án, dự án, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh đối với các vùng, các địa bàn trọng điểm, nhất là Đề án “Kết hợp kinh tế với quốc phòng, an ninh trong quản lý, bảo vệ chủ quyền biển, đảo”.

Ba là, chủ động tiến hành tốt công tác chuẩn bị Đại hội Đảng bộ Quân đội lần thứ XII, tiến tới Đại hội XIV của Đảng. Triển khai chuẩn bị chu đáo từ việc xây dựng các văn bản chỉ đạo đại hội, đến công tác chuẩn bị văn kiện và nhân sự cho đại hội; xác định đây là một trong những công việc trọng tâm trong thời gian tới. Đặc biệt, cần chú trọng công tác tạo nguồn, quy hoạch cán bộ các cấp, chuẩn bị nhân sự đại hội thật sự chất lượng, có tầm nhìn chiến lược để tham gia cung cấp nguồn cán bộ chiến lược cho Trung ương.

Bốn là, chủ động chỉ đạo thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ chính trị được giao. Hoàn chỉnh và triển khai thật tốt các đề án hướng tới kỷ niệm: 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân; 50 năm Ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam, thống nhất đất nước; 80 năm Ngày Cách mạng Tháng Tám thành công và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Chỉ đạo thực hiện tốt các cuộc diễn tập khu vực phòng thủ các cấp, lưu ý bảo đảm an toàn tuyệt đối về người và vũ khí, trang bị kỹ thuật. Thường xuyên điều chỉnh, bổ sung, hoàn chỉnh các phương án phòng, chống thiên tai, tìm kiếm, cứu nạn, cứu hộ.

Chỉ đạo bảo đảm đầy đủ, kịp thời công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính; phát huy tinh thần chủ động, tự lực, tự cường trong xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, hiện đại, đáp ứng yêu cầu hiện đại hóa quân đội. Tiếp tục triển khai thực hiện hiệu quả nghị quyết, kết luận của Bộ Chính trị, Quân ủy Trung ương về hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng. Tổ chức thật tốt Triển lãm quốc phòng quốc tế năm 2024 và các hoạt động đối ngoại quốc phòng nhân dịp kỷ niệm 80 năm Ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam và 35 năm Ngày hội quốc phòng toàn dân, tạo được ấn tượng tốt đẹp đối với bạn bè quốc tế, góp phần quảng bá hình ảnh quân đội, hình ảnh “Bộ đội Cụ Hồ”, hình ảnh đất nước và con người Việt Nam yêu chuộng hòa bình, văn hiến và anh hùng.

Năm là, chủ động tiến hành các biện pháp xây dựng Đảng bộ quân đội thật sự trong sạch, vững mạnh, gương mẫu, tiêu biểu cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ: Không ngừng nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, giữ vững và tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với quân đội. Tiếp tục tổ chức đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh với các mô hình, cách làm sáng tạo, phù hợp, nhất là việc làm theo để mỗi cán bộ, đảng viên “muốn học tập, muốn làm theo”, từ đó tận tâm, sẵn sàng cống hiến, sẵn sàng hy sinh, phục vụ Đảng, Tổ quốc và nhân dân. Triển khai đồng bộ các giải pháp giữ vững và phát huy phẩm chất “Bộ đội Cụ Hồ”, kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân trong tình hình mới.

Coi trọng làm tốt công tác bảo vệ chính trị nội bộ; tích cực, chủ động đi đầu trong bảo vệ nền tảng tư tưởng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thù địch, giữ vững trận địa tư tưởng của Đảng trong quân đội. Thực hiện tốt công tác dân vận, chính sách hậu phương quân đội, góp phần tăng cường, củng cố mối quan hệ đoàn kết gắn bó máu thịt quân - dân, xây dựng “thế trận lòng dân” vững chắc.

Tôi tin tưởng 6 tháng đầu năm chúng ta đã thu được nhiều kết quả tích cực thì với quyết tâm chính trị cao, chắc chắn Đảng bộ quân đội và toàn quân sẽ phấn đấu hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ quân sự, quốc phòng và công tác xây dựng Đảng 6 tháng cuối năm 2024, xứng đáng với sự kỳ vọng, tin yêu của Đảng, Nhà nước và nhân dân.

Sau Hội nghị Quân ủy Trung ương, Bộ Quốc phòng sẽ tổ chức Hội nghị Quân chính toàn quân 6 tháng đầu năm 2024. Tôi đề nghị những chủ trương, quyết sách của Quân ủy Trung ương đề ra tại kỳ họp này phải được phổ biến đến toàn thể cán bộ, chiến sĩ; tiếp tục quán triệt, xây dựng ý chí, quyết tâm cao cho toàn quân, phấn đấu hoàn thành thắng lợi mọi nhiệm vụ 6 tháng cuối năm 2024 và những năm tiếp theo./.

Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay 
 
     Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn đề cao sự cần thiết và vai trò của việc nêu gương đối với mỗi cán bộ, đảng viên. Nêu gương được Người coi là một trong những cách thức quan trọng để cán bộ, đảng viên phát huy trách nhiệm của mình trước Đảng, trước nhân dân. Tư tưởng đó của Người có ý nghĩa lý luận và thực tiễn sâu sắc, nhất là trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng giai đoạn hiện nay. 
    Tư tưởng Hồ Chí Minh về nêu gương của cán bộ, đảng viên 
    Chủ tịch Hồ Chí Minh là tấm gương sáng ngời về việc nêu gương, gương mẫu, nói đi đôi với làm... Điều đó được minh chứng trong cả cuộc đời của Người. 
    Thứ nhất, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn gương mẫu đi đầu. Trong tác phẩm “Đường Cách mệnh” (năm 1927), Người nêu ra 23 điều về “Tư cách một người cách mệnh”, trong đó có điều: “Nói thì phải làm”. Người còn nhấn mạnh: “Cán bộ xung trước,/Làng nước theo sau,/Việc khó đến đâu,/Cũng làm được hết”. Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, nêu gương trước hết là phải làm gương trong mọi công việc, từ nhỏ đến lớn, thể hiện thường xuyên về mọi mặt, nhất là nêu gương về đạo đức, phải cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư. Đó là phẩm chất đạo đức cách mạng chủ yếu, là nhân cách của con người. Theo Người, kẻ thù của lòng chí công vô tư chính là chủ nghĩa cá nhân, chỉ muốn tự tư tự lợi, chỉ thấy lợi ích riêng của mình, không thấy lợi ích chung của tập thể, của đất nước. Vì vậy, mỗi cán bộ, đảng viên phải kiên quyết chống chủ nghĩa cá nhân, hình thành phẩm chất đạo đức đúng đắn, để “giàu sang không thể quyến rũ, nghèo khó không thể chuyển lay, uy lực không thể khuất phục”. 
    Thứ hai, cần nêu gương trên ba mối quan hệ: với mình, với người, với việc. Đối với mình, người cán bộ, đảng viên không được tự cao tự đại, tự mãn, kiêu ngạo, mà phải luôn học tập cầu tiến bộ, luôn tự kiểm điểm để phát triển điều hay, sửa đổi điều dở của bản thân, phải tự phê bình như rửa mặt hằng ngày. Đối với người, cán bộ, đảng viên luôn giữ thái độ chân thành, khiêm tốn, đoàn kết, thật thà, không dối trá, lừa lọc, khoan dung, độ lượng. Đối với việc, dù trong hoàn cảnh nào, cán bộ, đảng viên cũng phải giữ nguyên tắc “dĩ công vi thượng” (đặt việc công lên trên, lên trước việc tư). 
    Thứ ba, muốn nêu gương được thì nói phải đi đôi với làm. Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng đầy gian khổ hy sinh, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn là một tấm gương đạo đức mẫu mực cho mọi người học tập và noi theo. Ở Người đã đạt tới sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đạo đức và nêu gương, đạt tới sự nhất quán giữa công việc và đời tư, giữa đạo đức vĩ nhân và đạo đức đời thường, địa vị càng cao, uy tín càng lớn, ra sức hoàn thiện, trở thành tấm gương đạo đức trọn vẹn. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “... một tấm gương sống còn có giá trị hơn một trăm bài diễn văn tuyên truyền”. Cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, theo yêu cầu của Người, là những người ưu tú nhất trong nhân dân, lời nói phải đi đôi với việc làm để nêu gương cho quần chúng nhân dân noi theo. Nói đi đôi với làm là sự nêu gương tốt của thế hệ đi trước với thế hệ đi sau, của lãnh đạo với cấp dưới, của cán bộ, đảng viên với quần chúng nhân dân... Chủ tịch Hồ Chí Minh từng dạy: “Nói miệng, ai cũng nói được. Ta cần phải thực hành... Trước hết, mình phải làm gương, gắng làm gương trong anh em, và khi đi công tác, gắng làm gương cho dân. Làm gương về cả ba mặt: Tinh thần, vật chất và văn hóa. Không có gì là khó. Khó như cách mạng mà ta đã làm được và đã thành công. Muốn làm được, ta phải: Quyết tâm, tín tâm và đồng tâm. Ta nhớ ba chữ ấy, thực hành làm gương nêu ba chữ ấy lên, tất là các đồng chí phải thành công”. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhắc nhở đảng viên: “Trước mặt quần chúng, không phải ta cứ viết lên trán chữ “cộng sản” mà ta được họ yêu mến. Quần chúng chỉ quý mến những người có tư cách, đạo đức. Muốn hướng dẫn nhân dân, mình phải làm mực thước cho người ta bắt chước”. Tự mình phải “chính” trước mới giúp người khác chính. Mình không “chính”, mà muốn người khác “chính” là vô lý. Chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng, đối với cán bộ, đảng viên, thì sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa đạo đức và nêu gương cần đạt tới sự nhất quán trong công việc và trong đời sống riêng, giữa đạo đức của người lãnh đạo và đạo đức đời thường. Địa vị càng cao càng phải ra sức hoàn thiện về đạo đức, thống nhất giữa nói và làm. Người đòi hỏi mỗi cán bộ, đảng viên làm kiểu mẫu trong công tác và lối sống; trong mọi lúc, mọi nơi, nói đi đôi với làm để quần chúng nhân dân noi theo. Việc nói đi đôi với làm mang lại cho quần chúng nhân dân lòng tin và sự tôn trọng đối với người cán bộ; do đó, người cán bộ dễ dàng thực thi quyền lãnh đạo của mình. Người phê phán những cán bộ “chỉ biết nói là nói, nói giờ này qua giờ khác, ngày này qua ngày khác. Nhưng một việc gì thiết thực cũng không làm được”. Nhân dân không bao giờ tin cậy cán bộ nói mà không làm, nói nhiều làm ít, nói hay làm dở, nói một đằng làm một nẻo. Muốn rèn luyện được phong cách nói đi đôi với làm, người cán bộ phải thường xuyên tự kiểm điểm, soi xét chính mình; đồng thời, phải khuyến khích cấp dưới và quần chúng nhân dân nhận xét, phê bình, góp ý cho mình, nhắc nhở mình về những điều đã hứa. Người cán bộ cũng phải biết tránh căn bệnh hình thức, bệnh “hữu danh, vô thực”, chạy theo những thứ hào nhoáng bên ngoài. Cán bộ, đảng viên tự tu dưỡng hằng ngày để trở thành con người có đời tư trong sáng, là tấm gương giúp nhân dân nhìn vào đó mà noi theo; qua đó, mà làm tăng những điều đúng, điều thiện, chống thói hư, tật xấu. Thứ tư, để giáo dục bằng nêu gương đạt hiệu quả cao, Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương: “Lấy gương người tốt, việc tốt để hàng ngày giáo dục lẫn nhau là một trong những cách tốt nhất để xây dựng Đảng, xây dựng các tổ chức cách mạng, xây dựng con người mới, cuộc sống mới”. Trong các nội dung nêu gương, cán bộ, đảng viên phải luôn luôn nêu gương về tinh thần phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Chủ tịch Hồ Chí Minh nhấn mạnh trách nhiệm phục vụ nhân dân từ một triết lý sâu xa rằng, “dân là chủ”, “dân làm chủ” và “cơm chúng ta ăn, áo chúng ta mặc, vật liệu chúng ta dùng, đều do mồ hôi nước mắt của nhân dân mà ra. Vì vậy chúng ta phải đền bù xứng đáng cho nhân dân”. Do đó, cán bộ, đảng viên phải xông xáo, nhiệt tình, sâu sát nhân dân, gương mẫu và dám chịu trách nhiệm trước nhân dân cả về lời nói và việc làm; phải luôn quyết tâm, bền bỉ, chịu đựng gian khổ, quan tâm và tìm mọi cách giải quyết kịp thời, hiệu quả những nhu cầu mà nhân dân đặt ra, kể cả chấp nhận sự hy sinh để bảo vệ nhân dân, phấn đấu vì sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân. Tư tưởng đạo đức ấy đã tạo nên một phong cách nêu gương, tự giác gương mẫu của Chủ tịch Hồ Chí Minh, người lãnh tụ kính yêu của cách mạng Việt Nam, người suốt đời phấn đấu, hy sinh vì đất nước, vì dân tộc, đời tư trong sáng, cuộc sống riêng giản dị; vì vậy, cả cuộc đời Người là một tấm gương lớn cho các thế hệ người Việt Nam mãi mãi noi theo. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong công cuộc xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay Thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý, là một phương thức lãnh đạo của Đảng ta. Các cấp ủy, cán bộ, đảng viên, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị, địa phương phải nghiêm túc thực hiện trách nhiệm nêu gương; cán bộ giữ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu, nhất là các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ủy viên Ban Bí thư, Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương. Nêu gương bằng những việc làm, hành động cụ thể hằng ngày, với phương châm “trên trước, dưới sau”, “trong trước, ngoài sau”, “học tập đi đôi với làm theo Bác”. Đề cao vai trò, trách nhiệm tiên phong, gương mẫu với nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, cơ quan, đơn vị, cương vị càng cao càng phải gương mẫu trong tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, phong cách, tác phong, lề lối công tác để nhân dân noi theo; phải thể hiện được bản lĩnh chính trị vững vàng, tư tưởng đúng đắn, phẩm chất đạo đức, lối sống trong sáng, dám nghĩ, dám làm, dám đột phá, sáng tạo, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung, hết lòng, hết sức phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; có phong cách lãnh đạo khoa học, dân chủ, sâu sát thực tiễn, thực sự là hạt nhân đoàn kết, quy tụ, tạo động lực và phát huy trí tuệ tập thể... Nêu gương là đề cao “nói đi đôi với làm”, “rèn luyện suốt đời”, thường xuyên “tự soi”, “tự sửa”, nâng cao tính cảnh tỉnh, răn đe đối với những tư tưởng, biểu hiện tiêu cực; đồng thời, khuyến khích, cổ vũ cán bộ, đảng viên suy nghĩ, hành động vì lợi ích chung, vì hạnh phúc của nhân dân, làm cho Đảng ta thực sự trong sạch, vững mạnh. Đảng ta luôn coi cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng. Sự nêu gương của cán bộ, đảng viên có vai trò đặc biệt quan trọng, là một trong những phương thức lãnh đạo của Đảng. Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã ban hành nhiều quy định về thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên. Mới đây nhất, Quy định số 144-QĐ/TW, ngày 9-5-2024, của Bộ Chính trị, về “Chuẩn mực đạo đức cách mạng của cán bộ, đảng viên trong giai đoạn mới” tiếp tục khẳng định vai trò, trách nhiệm gương mẫu, đi đầu của cán bộ, đảng viên. Nhờ đó, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên có những chuyển biến tích cực, thể hiện qua các mặt sau: Về tư tưởng chính trị, đa số cán bộ, đảng viên giữ vững lập trường tư tưởng, kiên định chủ nghĩa Mác - Lê-nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, tin tưởng vào sự lãnh đạo, đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu trong việc thực hiện, tuyên truyền và bảo vệ chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Cán bộ, đảng viên đã nhận thức đầy đủ hơn tầm quan trọng của công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng; bước đầu có chuyển biến rõ rệt trong nhận diện và tham gia đấu tranh với những biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” để tự soi, tự sửa. Về đạo đức, lối sống, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt các cấp, đã tích cực học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh, thực hiện các bộ quy tắc, chuẩn mực đạo đức công vụ gắn với nhiệm vụ chính trị của địa phương, cơ quan, đơn vị; qua đó, tạo được sự chuyển biến bước đầu trong nhận thức và nêu cao tinh thần cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư, có thái độ chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng; có tác phong sâu sát thực tế, gần gũi với cấp dưới, với nhân dân; dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tích cực đấu tranh phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí... Việc thực hiện các quy định về nếp sống văn minh, văn hóa công sở... có nhiều tiến bộ. Về tự phê bình và phê bình, nhiều cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu đã gương mẫu thực hiện tự phê bình và phê bình với tinh thần xây dựng, cầu thị, tự giác. Việc thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ trong các tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị đã có chuyển biến tích cực, từng bước khắc phục tình trạng độc đoán, chuyên quyền hoặc dân chủ hình thức. Qua kiểm điểm tự phê bình và phê bình, đã xác định rõ hơn trách nhiệm của từng cá nhân trong khuyết điểm của tập thể. Về quan hệ với nhân dân, nhiều cán bộ, đảng viên, trong đó có cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, đã sâu sát cơ sở, gần dân, sát dân, lắng nghe tâm tư, nguyện vọng của nhân dân để có hướng xử lý phù hợp. Một số cấp ủy và chính quyền đã có cách làm hiệu quả, như tổ chức đối thoại trực tiếp giữa lãnh đạo cấp ủy - chính quyền với nhân dân, để kịp thời lắng nghe những vấn đề phát sinh từ cơ sở; công bố số điện thoại đường dây nóng, số điện thoại cơ quan, đơn vị để nhân dân phản ánh kịp thời về tinh thần trách nhiệm, thái độ thực thi nhiệm vụ và phục vụ nhân dân... Qua đó, vừa nắm bắt tâm tư, nguyện vọng, tiếp thu được ý kiến của nhân dân, giải quyết các vụ việc bức xúc, phức tạp, vừa kịp thời chấn chỉnh thái độ, phong cách giao tiếp, phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên; góp phần củng cố và nâng cao niềm tin của nhân dân vào vai trò lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền và trách nhiệm thực thi công vụ của cán bộ, đảng viên. Về trách nhiệm trong công tác, một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp đã nêu gương về đổi mới tư duy, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngại khó khăn, gian khổ, sẵn sàng nhận nhiệm vụ do tổ chức phân công. Thực thi công vụ bảo đảm nguyên tắc, kỷ cương, hoàn thiện các quy trình, đổi mới cách làm, tận tụy với công việc; xây dựng và thực hiện các quy chế, quy ước, đạo đức công vụ, nhất là về thực hành tiết kiệm, chống tham nhũng, lãng phí. Về ý thức tổ chức, kỷ luật, đa số cán bộ, đảng viên gương mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ, nghị quyết và các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ, phát huy dân chủ đi đôi với giữ nghiêm kỷ luật trong chi bộ, cơ quan, đơn vị. Tuân thủ sự phân công, điều động của tổ chức; gương mẫu thực hiện chế độ sinh hoạt đảng và các nội quy, quy chế của địa phương, cơ quan, đơn vị. Về đoàn kết nội bộ, ở nhiều nơi, cán bộ, đảng viên đã tích cực tham gia xây dựng đoàn kết nội bộ trong tổ chức đảng, chính quyền và các tổ chức chính trị - xã hội. Nhiều cán bộ chủ chốt là tấm gương trong đoàn kết, tạo môi trường làm việc dân chủ, hợp tác và giúp đỡ nhau cùng tiến bộ; tích cực đấu tranh chống các biểu hiện chia rẽ, cục bộ, bè phái, ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị và khi phát hiện có dấu hiệu mất đoàn kết nội bộ, người đứng đầu đã chủ động gặp gỡ, trao đổi, tìm hiểu, nắm bắt thông tin từ nhiều nguồn để có biện pháp chấn chỉnh, xử lý kịp thời. 
    Bên cạnh kết quả đạt được, việc thực hiện trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên cũng còn hạn chế, khuyết điểm: 
    Một là, một số cán bộ, đảng viên, trong đó có người đứng đầu, thậm chí cả Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương, Ủy viên Bộ Chính trị, cán bộ chủ chốt chưa thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu. Tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống của một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên chưa bị đẩy lùi, có mặt, có bộ phận còn diễn biến tinh vi, phức tạp hơn; tham nhũng, lãng phí, tiêu cực vẫn còn nghiêm trọng, tập trung chủ yếu vào đảng viên có chức vụ. Một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt thiếu gương mẫu trong rèn luyện tư tưởng chính trị, giữ gìn phẩm chất đạo đức, lối sống, tác phong, với các biểu hiện, như nói không đi đôi với làm, nói nhiều làm ít, trục lợi; lạm dụng tài sản công (công quỹ, xe công, nhà công vụ...); lãng phí trong công tác và sinh hoạt, tiêu dùng xa xỉ, tiệc tùng xa hoa; thiếu minh bạch trong kê khai tài sản, thu nhập; lạm dụng chức vụ, quyền hạn trong công tác cán bộ; còn biểu hiện quan liêu, cửa quyền, không thực sự sâu sát cơ sở, chưa kịp thời nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của cán bộ, đảng viên và nhân dân. Tình hình mâu thuẫn, mất đoàn kết nội bộ diễn ra ở một số cơ quan, đơn vị chưa được giải quyết kịp thời, vẫn còn cán bộ, đảng viên, kể cả cán bộ lãnh đạo chủ chốt, ngại khó khăn, gian khổ, không sẵn sàng nhận nhiệm vụ khi được tổ chức phân công. Một số cán bộ, trong đó có cả cán bộ cao cấp đã vi phạm kỷ luật đảng, vi phạm pháp luật, làm xói mòn niềm tin của nhân dân đối với Đảng. 
    Hai là, vẫn còn tình trạng vi phạm quy chế làm việc của cấp ủy; thực hành dân chủ, tự phê bình và phê bình còn mang nặng tính hình thức, chưa thực sự phát huy hết vai trò, trách nhiệm nêu gương. Tinh thần, trách nhiệm của nhiều cán bộ, đảng viên trong tự phê bình và phê bình chưa cao, chưa mạnh dạn, chưa thẳng thắn, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh, né tránh không nhận khuyết điểm, sai phạm của mình. Trong đấu tranh còn có biểu hiện nể nang, né tránh, ngại va chạm, ngại góp ý với đồng chí, đồng nghiệp, nhất là khi phê bình người đứng đầu; có nơi, có lúc vẫn còn tình trạng lợi dụng phê bình để xu nịnh, lấy lòng, thổi phồng thành tích hoặc nói xấu, cường điệu khuyết điểm, hạ thấp uy tín của nhau. 
    Ba là, công tác kiểm tra, giám sát thực hiện các quy định nêu gương của một số cấp ủy, tổ chức đảng chưa thường xuyên, nghiêm túc, chủ yếu lồng ghép với kiểm tra, giám sát các nghị quyết, quy định, chỉ thị khác. Nhiều vi phạm của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ chủ chốt, chủ yếu do cấp trên kiểm tra, giám sát phát hiện hoặc do đơn, thư tố cáo, phản ánh, kiến nghị, góp ý của đảng viên, nhân dân và báo chí. Việc xử lý vi phạm ở một số địa phương, cơ quan, đơn vị còn chưa nghiêm, tính răn đe chưa cao. 
    Bốn là, công tác sơ kết, đánh giá việc thực hiện quy định nêu gương còn nhiều hạn chế. Hằng năm, không có báo cáo riêng về thực hiện trách nhiệm nêu gương. Việc phát hiện, xây dựng gương người tốt, việc tốt và tổng kết mô hình mới, cách làm hay để nhân rộng và biểu dương, khen thưởng chưa được kịp thời. 
    Giải pháp nâng cao trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng theo tư tưởng Hồ Chí Minh Để phát huy trách nhiệm tự giác, tích cực nêu gương của cán bộ, đảng viên trong xây dựng, chỉnh đốn Đảng hiện nay, cần thực hiện tốt các giải pháp sau: 
    Thứ nhất, nâng cao nhận thức chính trị, ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên. Mỗi cán bộ, đảng viên phải tự ý thức trách nhiệm nêu gương của mình; phải nhận thức rằng, nếu cán bộ, đảng viên mà không nêu gương thì không còn xứng đáng là cán bộ, đảng viên nữa. 
    Thứ hai, nâng cao nhận thức và ý thức trách nhiệm nêu gương trước quần chúng nhân dân; từ đó, nâng cao tinh thần trách nhiệm phục vụ nhân dân của cán bộ, đảng viên. Quần chúng nhân dân là người sáng tạo, làm nên lịch sử, là nguồn lực, là sức mạnh của Đảng. Nhân dân là đối tượng lãnh đạo, quản lý, nhưng dân là chủ và dân làm chủ. Cán bộ, đảng viên vừa là người lãnh đạo, vừa là người đầy tớ của nhân dân, trước hết phải tuyệt đối trung thành với sự nghiệp cách mạng của nhân dân, suốt đời phấn đấu vì tự do, hạnh phúc, lợi ích chính đáng của nhân dân. Để thực hiện mục tiêu cao cả đó, mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt đường lối nhân dân của Đảng, trước hết là phải thường xuyên quán triệt mục tiêu, lý tưởng của Đảng là phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân. Đảng không có lợi ích nào khác ngoài việc đem lại lợi ích cho nhân dân. Để nâng cao ý thức trách nhiệm với nhân dân, điều quan trọng nhất là mỗi cán bộ, đảng viên phải nêu gương thực hiện tốt chức trách, nhiệm vụ của mình; phải làm tốt, xử lý hài hòa mối quan hệ với nhân dân theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Khắc phục những tác động tiêu cực của mặt trái của cơ chế kinh tế thị trường và quá trình hội nhập quốc tế. Tổ chức đảng, cơ quan quản lý nhà nước phải có quy định cụ thể, lấy tinh thần, thái độ phục vụ nhân dân làm thước đo chuẩn mực đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên. 
    Thứ ba, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trong công tác xây dựng, chỉnh đốn Đảng. Lẽ tự nhiên là sự lớn mạnh của Đảng, sức mạnh của Đảng nằm trong đội ngũ cán bộ, đảng viên có phẩm chất và năng lực, có đức, có tài, có trách nhiệm nêu gương và sự nhiệt tình, tâm huyết trong công tác xây dựng Đảng. Trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên là tích cực tham gia xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ, nhưng để trách nhiệm nêu gương đó được thực hiện tốt thì cần có sự chuyển động từ hai phía: cán bộ, đảng viên và cấp ủy. Với cấp ủy, phải thực hành dân chủ rộng rãi trong tổ chức đảng, tổ chức tốt việc tự phê bình và phê bình như lời căn dặn của Bác Hồ. Cán bộ lãnh đạo các cấp thực sự gương mẫu, tôn trọng nguyên tắc sinh hoạt đảng, tôn trọng tập thể, lắng nghe ý kiến của cán bộ, đảng viên... Có như vậy, tính tích cực, tự giác trong mỗi cán bộ, đảng viên mới được phát huy mạnh mẽ. Với cán bộ, đảng viên, phải tích cực học tập, nâng cao trình độ lý luận chính trị và năng lực hoạt động thực tiễn; tham gia vào các quá trình xây dựng đường lối chính trị; góp phần quán triệt, triển khai đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước trong nhân dân; bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. 
    Thứ tư, nâng cao ý thức trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên đối với cộng đồng, gia đình, xã hội. Trong điều kiện toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế sâu rộng và phát triển nền kinh tế thị trường hiện nay, việc xác định rõ, nêu cao ý thức trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trước gia đình, cộng đồng, Tổ quốc là rất quan trọng để phát huy tính tích cực của họ; đồng thời, hạn chế tác động tiêu cực từ những nhân tố khách quan đó. Duy trì và tự giác thực hiện các giá trị truyền thống tốt đẹp, các chuẩn mực đạo đức trong gia đình, có lối sống mực thước, nêu gương trong học tập, lao động, sản xuất, công tác; người trên làm gương cho người dưới, thế hệ trước làm gương cho thế hệ sau, cán bộ, đảng viên nêu gương trước quần chúng là trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên. Phải luôn luôn đoàn kết, tôn trọng và bảo vệ cộng đồng; phát huy và bảo vệ tập quán, truyền thống tốt đẹp; có ý thức cộng đồng, ý thức về cội nguồn, đạo lý uống nước nhớ nguồn; tôn trọng quy tắc ứng xử của cộng đồng; lên án hành vi xâm hại lợi ích chung của cộng đồng, gây phương hại đến lợi ích của các thành viên trong cộng đồng.         Thứ năm, xác định rõ trách nhiệm nêu gương của mỗi cán bộ, đảng viên trên vị trí công tác. Trong điều kiện Đảng cầm quyền, việc xây dựng phẩm chất chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống qua xác định trách nhiệm chung với Tổ quốc, dân tộc, nhân dân, Đảng, Nhà nước, cộng đồng xã hội, gia đình chỉ có hiệu quả khi xác định rõ trách nhiệm nêu gương cụ thể của mỗi cán bộ, đảng viên. Để mỗi người đều thấy rõ trách nhiệm của chính mình, mỗi cán bộ, đảng viên phải tự rèn luyện đạo đức cách mạng, coi đó là nhiệm vụ không thể thoái thác, tự thân... cần xác định rõ nghĩa vụ và quyền lợi trên mỗi cương vị công tác. Đó là trách nhiệm của tổ chức đảng, chính quyền, đoàn thể. Phẩm chất chính trị, đạo đức của mỗi cán bộ, đảng viên được thể hiện trong sự tôn trọng bản thân, thể hiện trong các mối quan hệ với chính mình, với người và với việc. Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống của mỗi người thể hiện qua trách nhiệm với công việc được giao. Mọi công việc phải được làm cho đến nơi đến chốn, làm cho kỳ được với tinh thần “việc thiện thì nhỏ mấy, khó mấy cũng nên làm; việc ác thì nhỏ mấy cũng phải tránh”./.

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

Vạch mặt Vũ Đông Hà với những luận điệu xuyên tạc, chống phá Đảng, Nhà nước và nhân dân

Vũ Đông Hà, với blog dân làm báo liên tục tung ra các bài viết, xuyên tạc, ngụy biện vô căn cứ vào những vấn đề của đất nước, mục tiêu nhắm kích động chống Đảng, Nhà nước, phủ nhận sự lãnh đạo cách mạng Việt Nam, đặc biệt, trong những năm đổi mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng dân chủ ngày càng được thực hiện rộng rãi trên mọi lĩnh vực, kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội.
Bằng các bài viết “Ai dựng nên nhà tù này”, Vũ Đông Hà đã lộ rõ nguyên hình  là kẻ phản động. Toàn bộ nội dung bài viết của Vũ Đông Hà là sự xuyên tạc trắng trợn, cho rằng: “Nước ta không có dân chủ, nhân dân phải sống trong ngục tù”. Cuối bài viết, Vũ Đông Hà kêu gọi nhân ta phải đứng lên phá bỏ “ngục tù cai trị của chế độ, lúc đó mới thực sự là những công dân tự do làm chủ vận mệnh của mình và vận mệnh của đất nước”.
Vũ Đông Hà - "dân làm báo" với thủ đoạn xuyên tạc, chống phá Đảng, nhà nước và nhân dân.

Trong vấn đề kinh tế đất nước: Thực tế, người dân, có quyền tham gia các chủ trương, chính sách phát triển kinh tế – xã hội của Đảng và Nhà nước; tham gia quản lý và giám sát các hoạt động của nhà nước và các doanh nghiệp. Người lao động có quyền được hưởng thụ một cách bình đẳng những thành quả kinh tế của đất nước. Tinh thần dân chủ, công khai, minh bạch trong hoạt động kinh tế ngày càng thể hiện rõ. Nhà nước chăm lo cho người dân có công ăn việc làm, quan tâm đến vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn để nâng cao chất lượng cuộc sống, xóa đói, giảm nghèo. Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế khác nhau, các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh, bình đẳng trong khuôn khổ của Hiến pháp, pháp luật. Thể chế quan điểm của Đảng, Nhà nước đã ban hành nhiều đạo luật để tạo hành lang pháp lý cho sự vận hành của nền kinh tế, như Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu, Luật Hợp tác xã, Luật Doanh nghiệp, Luật Đất đai, Luật Phá sản…
Trong vấn đề về chính trị: Đảng lãnh đạo tiến hành đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động của hệ thống chính trị, qua đó dân chủ xã hội chủ nghĩa ngày càng được phát huy. Thực hiện bầu cử có số dư, ban hành Quy chế chất vấn trong Đảng. Sinh hoạt dân chủ trong nội bộ Đảng có bước tiến rõ rệt. Hoạt động của Quốc hội ngày càng dân chủ, tăng cường hoạt động chất vấn và trả lời chất vấn tại các phiên họp của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các Ủy ban của Quốc hội; lấy phiếu tín nhiệm các chức danh do Quốc hội, Hội đồng nhân dân bầu hoặc phê chuẩn; Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội đã phát huy tốt vai trò giám sát và phản biện xã hội, đại diện, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của nhân dân, chăm lo lợi ích của các đoàn viên, hội viên; thực hiện dân chủ và xây dựng xã hội lành mạnh.
Những kết quả trên là sự thật, không thể phủ nhận, mọi luận điệu xuyên tạc trắng trợn của Vũ Đông Hà chỉ làm bộc lộ rõ nguyên hình Y kẻ phản động, xuyên tạc trắng trợn về đời sống dân chủ của nhân dân Việt Nam, nói xấu Đảng, nói xấu chế độ, chúng ta cần cảnh giác và đấu tranh bác bỏ./.